DNVN - Ngày 25/6, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam phối hợp Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ tổ chức hội thảo “Doanh nghiệp Nông nghiệp trước làn sóng điều tra phòng vệ thương mại”.
Cần 'cây cầu đủ chắc' để hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp / Chuyển đổi số giúp giảm chi phí và phát thải trong logistics
Sự kiện được tổ chức tại TP Cần Thơ nhằm chủ động phòng ngừa, ứng phó và bảo vệ doanh nghiệp trước làn sóng điều tra phòng vệ thương mại ngày càng phức tạp.
Gia tăng các vụ điều tra
Theo Cục Phòng vệ thương mại (PVTM - Bộ Công Thương), ngành nông nghiệp từ lâu luôn được xem là trụ đỡ của nền kinh tế Việt Nam. Những năm qua, kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản liên tục bứt phá, chinh phục nhiều thị trường khó tính bậc nhất thế giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ ngày càng gia tăng, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đang phải đối mặt với sức ép vô cùng lớn.
Ông Chu Thắng Trung - Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) phát biểu khai mạc hội thảo.
Phó Cục trưởng Cục PVTM Chu Thắng Trung cho biết, từ đầu năm 2026 đến nay, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối phó với hơn 320 vụ việc điều tra từ 27 thị trường. Đáng chú ý, các mặt hàng nông - lâm - thủy sản, từ tôm, cá tra đến mật ong, tủ gỗ… đều đang trở thành đích ngắm của các công cụ phòng vệ thương mại.
Theo lãnh đạo Cục PVTM, các cuộc điều tra ngày càng phức tạp, chưa từng có tiền lệ, với những mức thuế trừng phạt có thể tương đương với lệnh cấm nhập khẩu, trực tiếp đe dọa sinh kế của hàng vạn nông dân và doanh nghiệp. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Bộ Công Thương, với tinh thần “Doanh nghiệp linh hoạt ứng phó trước rào cản bảo hộ”, Việt Nam đã có nhiều vụ kháng kiện thành công, bảo vệ được nhiều ngành hàng chủ lực.
Điển hình như việc chứng minh minh bạch để phía Hoa Kỳ giữ mức thuế 0 USD/kg cho cá tra phi lê đông lạnh; hay thành công trong việc giảm mạnh thuế chống bán phá giá mật ong từ mức trên 100% xuống chỉ còn 6,72% - 21,55%, giúp cánh cửa xuất khẩu tiếp tục rộng mở cho ngành nông nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, có một thực tế là khi đối diện với các vụ kiện kéo dài, các doanh nghiệp thường gặp nhiều khó khăn, thách thức. Chính vì vậy, tư duy ứng phó với PVTM trong giai đoạn hiện nay không thể chỉ dừng lại ở việc "có kiện mới đi chữa cháy". Theo định hướng chiến lược quản trị rủi ro quốc tế mà Bộ Công Thương đang triển khai, chúng ta cần chuyển mạnh từ “ứng phó bị động” sang “phòng ngừa chủ động”.
Minh bạch chuỗi sản xuất hàng hóa là yếu tố quyết định
Theo ông Phạm Hoàng Lâm - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Lam Rice Group, một doanh nghiệp có gần 40 năm sản xuất, chế biến và xuất khẩu lúa gạo cho biết, môi trường thương mại quốc tế hiện đang thay đổi rất nhanh, nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến giá thành, chất lượng và thị trường tiêu thụ thì hiện nay phải đối mặt với những yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững, giảm phát thải carbon, trách nhiệm xã hội và tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh bằng giá mà còn cạnh tranh bằng dữ liệu, bằng sự minh bạch và bằng niềm tin.
Ông Phạm Hoàng Lâm - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Lam Rice Group chia sẻ kinh nghiệm.
Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không chỉ là bán được hàng mà còn phải chứng minh được hàng hóa của mình minh bạch, bền vững và đáng tin cậy. Yêu cầu về tính minh bạch đã trở thành điều kiện bắt buộc chứ không còn là lợi thế cạnh tranh.
“Lam Rice Group hiện đang tham gia phát triển vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, thực tế cho thấy rằng, vùng nguyên liệu minh bạch không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn giúp doanh nghiệp chủ động khi làm việc với khách hàng quốc tế.
Trong khi đó, doanh nghiệp cần quản lý được toàn bộ dữ liệu từ giống lúa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhật ký canh tác, thu hoạch, sấy, tồn kho, chế biến cho đến xuất khẩu. Khi xảy ra các cuộc điều tra hoặc xác minh từ khách hàng quốc tế, dữ liệu chính là bằng chứng quan trọng nhất để bảo vệ doanh nghiệp”, ông Lâm chia sẻ.
Bà Huỳnh Ngọc Dũng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường) TP Cần Thơ cho biết, nguyên nhân của việc gia tăng số lượng các vụ điều tra PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam gắn với hệ quả của quá trình đẩy nhanh tự do hóa thương mại của Việt Nam với thế giới và cả xu thế bảo hộ thương mại cũng đang diễn biến khó lường, theo nhiều cách thức và mức độ khác nhau. Trong đó, các cuộc điều tra về gian lận xuất xứ và lẩn tránh biện pháp PVTM diễn ra ngày càng thường xuyên đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước.
Bà Huỳnh Ngọc Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường) TP Cần Thơ.
Theo bà Dũng, một trong những khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp khi tham gia các vụ việc PVTM là thiếu dữ liệu lịch sử về quá trình sản xuất. Nhiều thị trường hiện nay yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp thông tin rất chi tiết về thời gian sản xuất, giống cây trồng, vật tư đầu vào, thuốc bảo vệ thực vật, nhật ký canh tác, phát thải và nhiều thông tin khác.
Do đó, để phòng ngừa các biện pháp PVTM từ các thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp ngoài việc nắm vững các quy định của thị trường mà còn phải minh bạch trong sản xuất, chứng minh xuất xứ và nguồn gốc hàng hóa. Điều này cho thấy PVTM không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp xuất khẩu nông sản mà đã trở thành yêu cầu xuyên suốt đối với toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp, từ người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp cho đến cơ quan quản lý nhà nước.
“Năng lực PVTM của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của vùng nguyên liệu. Một vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, có mã số vùng trồng, có nhật ký sản xuất, có dữ liệu số, có truy xuất nguồn gốc và được doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu sẽ tạo nên hệ thống bằng chứng đầy đủ để doanh nghiệp chứng minh tính hợp pháp và minh bạch của sản phẩm khi tham gia thị trường quốc tế.
Ngược lại, nếu vùng nguyên liệu còn phân tán, thiếu liên kết và thiếu dữ liệu thì doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải giải trình với cơ quan điều tra của nước nhập khẩu”, bà Dũng nói.
Nguồn: Hòa Minh